NGÀY HỘI ĐỒNG GIÁO XỨ

(bài thuyết trình ngày lễ thánh Phêrô và Phaolô

29-6-2010 tại nhà thờ Chính Tòa Đalạt)

 

Cho phép tôi đi thẳng vào đề tài khỏi phải có những lời thưa gửi thường lệ.

Trước hết một vài danh xưng cần được xác định :

1.    Nhiều nơi gọi với danh xưng HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ (HĐMVGX): đây là một cơ chế được quy định trong Giáo Luật khoản 536 :

& 1 : Nếu Giám Mục Giáo Phận xét thấy thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Đồng Linh Mục, thì nên thiết lập trong mỗi giáo xứ một HỘI ĐỒNG MỤC VỤ, do cha sở đứng đầu, trong hội đồng này, các kitô hữu cùng với các người tham gia vào trách nhiệm mục vụ của giáo xứ, chiếu theo chức vụ của họ, phải góp phần cổ vũ sinh hoạt mục vụ.

& 2 : Hội Đồng Mục Vụ chỉ có quyền tư vấn và được điều hành theo các quy tắc do Giám Mục Giáo Phận thiết lập.

Tông Huấn Người Kytô Hữu Giáo Dân (THNKHGD) : 27 :  “Công đồng nói đến việc “cùng nhau góp ý kiến” để cứu xét và giải quyết các vấn đề mục vụ, mục này đã được các Nghị Phụ nghiên cứu và giải thích rộng rãi theo một cơ cấu tương xứng trong cái gọi là Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ.”

Xét theo khoản Giáo Luật trên, thì cụ thể trong Giáo Phận Đà Lạt 50 năm qua các Đấng Bản Quyền chưa thiết lập HỘI ĐỒNG MỤC VỤ. Cho nên trong hiện tại không thể dùng danh xưng này trong Giáo Phận.

Mặt khác cũng theo khoản luật trên, thì khi thành lập Hội Đồng Mục Vụ cho một giáo xứ, thì thiết yếu thành phần tham gia Hội Đồng này phải gồm đủ linh mục, tu sỹ, các đại diện hội đoàn tông đồ… mà đứng đầu là Linh Mục Quản Xứ, nói cách khác vị chủ tịch  HĐMVGX không phải là giáo dân. Về điều này ngay cả Quy Chế HĐMVGX của Tổng Giáo Phận THHCM cũng không thể hiện đúng. Theo đó hiện nay ở một vài giáo xứ có Hội Đồng Mục Vụ thì cụ thể các Hội Đồng ấy không bao gồm các thành phần theo luật định. Cho nên cũng không thể mang danh xưng Hội Đồng Mục Vụ.

2.    HỘI ĐỒNG GIÁO XỨ : Đây là danh xưng được Hội Đồng Giám Mục trước năm 1975 áp dụng. Danh xưng này tuy không gặp thấy trong các văn kiện của Giáo Hội toàn cầu nhưng có được sự đón nhận ở hầu hết các Giáo Phận và Giáo Xứ. Đã có nhiều bản Quy Chế hay Điều Lệ, Nội Quy. Tại Giáo Phận Đà Lạt trước 1975 cũng đã có một bản Quy Chế Hội Đồng Giáo Xứ do Đức Cố Giám Mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền ban hành.

3.    BAN HÀNH GIÁO GIÁO XỨ : Danh xưng được áp dụng ở một số giáo phận và giáo xứ sau 1975. Có lẽ là một danh xưng có tính thuần túy nhà đạo, không gặp thấy một áp dụng nào thực tế trong dân gian. Có thể xuất phát từ nghĩa ngữ của chữ HÀNH : là một chồi mầm biến thái hoạt động như một cơ quan sống lâu năm và thường sinh sản sinh dưỡng.

4.    BAN PHẦN VIỆC GIÁO XỨ : một danh xưng nhằm tránh chữ Hội Đồng thường thấy trong các tổ chức xã hội vào sau 1975, áp dụng trong Giáo Hạt Bảo Lộc được chính quyền công nhận.

Không biết rồi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sẽ chọn danh xưng nào. Đã có một dự thảo mang tên QUY CHẾ HỘI ĐỒNG MỤC VỤ GIÁO XỨ được gởi đi các Giáo Phận để được góp ý. Hy vọng Quy Chế sẽ được ban hành ngày gần đây. Ở đây chúng ta chỉ lưu ý đến thành phần Giáo Dân, mà sinh hoạt của thành phần này được hướng dẫn bởi các văn kiện công đồng Vatican 2 và Tông Huấn người Ki tô hữu Giáo dân của Đức Gioan Phao lô 2 và Giáo Luật 1983.

Vì thế chúng ta cần thông qua những điểm căn bản trong các văn kiện trên để hiểu rõ ơn gọi và sứ vụ của mình.

 

1.     Định nghĩa của khoản 515 GL

2.     Định nghĩa trong THNKHGD 20

3.     Định nghĩa của Đức Phaolô 6

 

Chúng ta có thể thấy những yếu tố cơ bản của Giáo Xứ :

1.     Ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.

Yếu tố này nói được là nền tảng cho mọi sinh hoạt của Ban Phần việc. Nhiều khi chúng ta qúa coi nhẹ thậm chí còn có những biểu hiện ngược lại, và điều ấy phá hủy toàn bộ phẩm giá của Ban Phần Việc. [1]

2.     “lữ hành trên dương thế, luôn tìm kiếm hương vị trên trời”.

Cho dù hiện diện trong trần gian, nhưng luôn hướng tới sự phát triển của Nước Thiên Chúa. Giáo Xứ tuy có cơ cấu tổ chức của một xã hội hữu hình, nhưng mục đích và hành động là vì Nước Trời, cho Nước Trời.Nhiều người trong các ban phần việc lại qúa chú tâm về mặt cơ cấu, tổ chức mà lãng quên những nghĩa vụ xây dựng Nước Trời. Do đó nảy sinh những thái độ cha chú hoặc chỉ lo những công việc trần thế. Trong khi để xây dựng Nước Trời phải dựa vào ân sủng và Tình Yêu phục vụ của Đức Giêsu. Trong đó phải nói đến những phương thế riêng biệt : là Lời Chúa, là Các Bí Tích, cách riêng Bí Tích Thánh Thể.

3.     Là Cộng Đoàn Thánh Thể : chúng ta gặp được yếu tố này trong THNKTHGD của Đức Gioan Phaolô 2.

Có nghĩa là Giáo Xứ là cộng đoàn có đủ tư cách và điều kiện để Cử Hành Thánh Thể : Linh mục, và giáo dân…Vì thế lẽ ra việc chuẩn bị, và cử hành Thánh Thể phải trở thành nghĩa vụ trọng tâm của người tham dự các ban phần việc :

Trước hết phải nói đến cơ sở vật chất, tôi không có ý nói là phải nguy nga hoành tráng nhưng cơ sở phải tôn nghiêm và sạch sẽ.Và nếu được cần tạo được khung cảnh làm cho con người có thể tiếp xúc dễ dàng với thế giới thần thiêng.

Chúng ta cũng phải nói đến tính cách trật tự và huynh đệ của cộng đoàn phụng vụ. Phải kiên trì đấu tranh với những thái độ xô bồ, và co rút vào tâm trạng cá nhân : đứng ngoài nhà thờ, trò truyện… Phải quan tâm giúp đỡ người già, người khuyết tật, trẻ em để tất cả có thể dễ dàng tham gia cử hành Phụng Vụ.

          Phải quan tâm xây dựng Ca Đoàn, Ban Giúp Lễ, Ban Đọc Sách, việc giữ xe, ban y tế là những thành phần trực tiếp đóng góp cho sự thánh thiêng của cộng đoàn phụng vụ.

          Tính chất của cộng đoàn Thánh Thể là thánh hiến thế giới thành của lễ hiệp nhất với Mình và Máu Đức Kitô. Từ đó nảy sinh những hiệp hội tông đồ. Ban Phần Việc phải nhờ họ và cùng với họ đi vào mọi môi trường sống : gia đình, xã hội làm cho mọi môi trường thấm nhuần tinh thần Thánh Thể. [2]

4.     Là Cộng Đồng tiên khởi  của Giáo Hội theo lời Đức Phaolô 6 :

Đức Phaolô 6 khai triển ý niệm này qua ba sứ vụ căn bản của Giáo Hội : Tư Tế, Tiên Tri và Vương Đế. Từ đó chúng ta có thể áp dụng 3 sứ vụ này cho Ban Phần Việc : Tập hợp Dân Chúa trong cử hành Phụng Vụ (Ngày nay nhiều người trong chúng ta cũng chỉ coi mình là người được tập họp như các tín hữu khác. Và hầu như không không ý thức nghĩa vụ tập họp ngày lễ cũng như ngày thường). Củng cố đức tin cho dân Chúa với việc rao truyền Lời Chúa, Giáo Lý của Hội Thánh (chúng ta thường khoán trắng cho các soeurs hay giáo lý viên). Và sứ vụ giải thoát dân Chúa khỏi ách tội lỗi : cụ thể là những con người đã bỏ đức tin, hay sống trong tình trạng không ân sủng.

5.     Là giếng nước đầu làng theo lời Đức Gioan XXIII.

Đức Chân Phước Giáo Hoàng muốn nói đến nguồn mạch bác ái yêu thương xoa dịu cơn khát của mọi con người thời đại. Vì thế ban phần việc phải đặc biệt quan tâm đến những người nghèo, người neo đơn, người bệnh tật ốm đau để đem lại cho họ nước yêu thương của Chúa Giêsu. [3]

*      Được thiết lập cách vững bền trong giáo hội địa phương : điều này cho thấy phải có một quyền bính thiết lập, và mối liên hệ mật thiết sâu xa với Giáo Phận (danh xưng của Giáo Hội địa phương). Quyền bính thiết lập Giáo Xứ thuộc về Đức Giám Mục Giáo Phận (Can. 515&2). Can. 368,369 đề cập đến trong giáo hội địa phương hiện hữu một Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền hoạt động thực sự.

Những điều trên đây buộc chúng ta tìm hiểu về cơ cấu phẩm trật trong Giáo Hội.

Định nghĩa về Giáo Xứ cho thấy Giáo Xứ là cộng đoàn phẩm trật, được thiết lập và được ủy thác cho một chủ chăn riêng.

1.     Phẩm trật bắt nguồn từ ĐGS.

2.     Được tiếp nối qua truyền thống Tông Đồ:

+ Tông đồ đoàn : với Phêrô đứng đầu

+Giám Mục đoàn : với ĐGH đứng đầu

+Linh mục đoàn với Giám Mục đứng đầu.

 

+ĐGH là nguyên lý nền tảng và hữu hình cho sự hiệp nhất của Giáo Hội Toàn Cầu.

+Giám Mục là nguyên lý và nền tảng cho sự hiệp nhất của Giáo Hội Địa Phương.

+ Trong mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương, linh mục là hiện thân của Giám Mục…linh mục thánh hóa dẫn dắt phần đoàn chiên được Chúa giao phó cho mình làm cho người ta thấy được giáo hội phổ quát ngay tại địa phương mình, góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng toàn thân thể Chúa Kitô. [4]

+ Nhiệm vụ Chúa đã trao phó cho các chủ chăn của dân Người thực là một việc phục vụ, mà thánh kinh gọi rõ ràng là “diakonia” nghĩa là “thừa tác vụ” (CVCTD 1,17;25; 21,19…)

+ Các Ngài (các chủ chăn) biết rằng Chúa Kitô không đặt các ngài lên để một mình lãnh lấy tất cả sứ vụ cứu độ của Giáo Hội đối với thế giới; nhưng nhiệm vụ cao cả của các ngài là chăn dắt các tín hữu và nhận biết các phận vụ và đoàn sủng nơi họ, để mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của mình.

+ Dẫu vậy, chúng ta đừng quên theo Giáo Luật thì Hội Đồng Mục Vụ GX chỉ có quyền tư vấn cho linh mục quản xứ.Cơ chế tổ chức do Giám Mục Giáo Phận thiết định.

Hội Đồng Mục Vụ là hình thức tông đồ tập thể nên phải tuân theo các tiêu chuẩn :

          @ Mục đích trực tiếp của những tổ chức này phải là mục đích tông đồ của Giáo Hội : nghĩa là rao truyền Phúc Âm và thánh hóa nhân loại, và đào tạo con người một lương tâm kitô giáo đích thực…

         @ Trong khi cộng tác với hàng giáo phẩm theo thể thức riêng của mình, người giáo dân đảm nhận trách nhiệm và đem kinh nghiệm riêng để điều hành các tổ chức này, tìm những điều kiện thích hợp cho hoạt động mục vụ của Giáo Hội, cũng như để soạn thảo và theo đuổi một chương trình hành động.

         @ Người giáo dân hoạt động liên kết với nhau như các cơ quan trong thân thể…

         @  Người giáo dân hoạt động dưới sự điều khiển của chính hàng giáo phẩm…Hàng giáo phẩm có thể thừa nhận công tác này bằng sự “ủy nhiệm” minh nhiên. SLTDGD 20 [5]

Hoặc những tiêu chuẩn trong THNKHGD :

        @ Ơn gọi nên thánh của mọi Kitô hữu nhắm tới “sự hiệp nhất thâm sâu giữa cuộc sống thường nhật với đức tin của các hội viên”.

        @ Sự dấn thân tuyên xưng đức tin Kitô giáo…Tất cả các hiệp hội…phải trở nên “một nơi rao truyền và thông đạt đức tin và giáo dục sống đức tin này trọn vẹn.”

       @ Phải chứng minh một đời sống hiệp thông kiên cường vững chắc trong tình nghĩa phụ tử đối với Đức Thánh Cha… đối với các Giám Mục… và với mọi hình thức tông đồ của Giáo Hội…

       @ Thỏa thuận và cộng tác để thực hiện sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội…phải có một tinh thần hăng hái nồng nhiệt truyền giáo…

       @ Phải dấn thân để có thể hiện diện trong xã hội loài người để phục vụ nhân phẩm toàn diện con người, đúng theo học thuyết xã hội của Giáo Hội.” [6]

*      Trách nhiệm mục vụ : Giáo xứ có những trách nhiệm mục vụ quy về 3 sứ vụ của Đức Kitô : Tư tế, tiên tri, vương đế. Và mỗi thành phần tham dự vào theo chức năng của mình. Ở đây đề cập đến sự tham dự của người giáo dân. Anh chị em trong ban phần việc trước hết vẫn phải chu toàn trách nhiệm này với tư cách một người tín hữu. Ngoài ra họ phải chăm lo cho việc thi hành các nghĩa vụ này được phối hợp và hợp nhất với tư cách tập thể. Có lẽ chúng ta ít quan tâm đến khía cạnh là một tín hữu.

*      “Mọi hoạt động kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần, và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (1Pet 2,5), được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Mình Thánh Chúa khi cử hành phép Thánh Thể. Như thế Giáo dân thánh hiến thế giới này cho Thiên Chúa nhờ biết phụng thờ Ngài bằng hành động thánh thiện khắp nơi.”

*      Người đã đặt họ làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ nữa (CVCTĐ 2,17-18) là để sức mạnh Phúc Âm sáng ngời trong đời sống thường ngày, trong gia đình và ngoài xã hội… giáo dân mạnh mẽ loan báo lòng tin vào điều mình trông đợi…nếu họ không ngần ngại nối kết đời sống đức tin với việc tuyên xưng đức tin làm một…Gia đình là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân… vì thế giáo dân có thể và phải có một hoạt động cao quý là truyền bá Phúc Âm cho thế giới, cả lúc họ bận tâm lo những việc trần thế. [7]

*      Chúa cũng muốn nhờ giáo dân để mở rộng nước Người, nước của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hòa bình; trong nước này, chính tạo vật cũng được giải thoát khỏi thân phận làm nô lệ sự hư đốn……khi các thể chế và cảnh sống của thế giới gây nên dịp tội, giáo dân phải góp sức làm cho các thể chế và cảnh sống đó trở nên lành mạnh, để chúng phù hợp với các tiêu chuẩn của đức công bình,…Chính công cuộc cứu độ đòi hỏi tín hữu phải lưu tâm phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách một phần tử của Giáo Hội, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách là một phần tử trong xã hội loài người. Họ phải cố gắng hòa hợp cả hai loại quyền lợi và nghĩa vụ đó với nhau, và hãy nhớ rằng trong mọi lãnh vực trần thế, lương tâm kitô giáo phải luôn hướng dẫn họ, vì không một hoạt động nào của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa4. 

*      Vì Chúa Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến là nguồn mạch ngyên ủy của mọi việc tông đồ trong Giáo Hội, nên hiển nhiên là kết quả phong phú của việc tông đồ giáo dân tùy thuộc ở sự kết hiệp sống động của chính họ với Chúa Kitô… [8]

 

  1. Trong hiện tình, các tín hữu giáo dân có thể và phải nỗ lực làm sao cho việc hiệp thông giáo hội được nẩy nở trong lòng giáo xứ của mình và để giáo xứ có một nghị lực truyền giáo cho người chưa có đức tin và cho những ai đã tin mà lại bê tha trong đời sống đạo của mình. THNKHGD 27 [9]

C. Tính cách Trần Thế

Vì người Giáo Dân cũng là Công Dân của xã hội trần thế “Chính công cuộc cứu độ đòi hỏi tín hữu phải lưu tâm phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách một phần tử của Giáo Hội, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách là một phần tử trong xã hội loài người. Họ phải cố gắng hòa hợp cả hai loại quyền lợi và nghĩa vụ đó với nhau, và hãy nhớ rằng trong mọi lãnh vực trần thế, lương tâm kitô giáo phải luôn hướng dẫn họ, vì không một hoạt động nào của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa.”

Trong những năm tháng qua, những biến cố từ Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Tòa, Cồn Dầu đã làm hoang mang nhiều người về nhiều phương diện. Những dư âm của nó lại được thổi phồng lên trong sự việc thay đổi nhân sự Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Qua những diễn biến đó chúng ta cũng cần nhìn lại vì dầu sao nó cũng là những vấn đề mà người trong ban phần việc phải có cái nhìn đúng để không đi lệch hướng trong sứ vụ của mình :

Ở đây có những vấn đề mang tính nguyên tắc :

VẤN ĐỀ SỰ THẬT, CÔNG LÝ, ĐỐI THOẠI, PHẨM TRẬT TRONG HỘI THÁNH

Cũng có những vấn đề mang tính hiện thực : Mất đất, Thánh Giá bị xúc phạm, người bị hành hung, bị đem ra tòa, Thuyên chuyển Giám Mục…

Mọi vấn đề đã được trình bày công khai tùy theo quan điểm của người trình bày mà nếu không thấy được quan điểm ấy, chúng ta sẽ bị lung lạc niềm tin.

Trước hết phải nói thẳng ra rằng có quan điểm phải lật đổ chế độ,ngược lại có quan điểm phải đối thoại với chế độ. Và tùy theo đứng ở quan điểm nào mà những vấn đề nguyên tắc hay hiện thực được nhìn rất khác nhau và nói được là mâu thuẫn nữa.

Người Giáo Dân không có sứ mạng thiết lập hay lật đổ một chế độ, nhưng họ được kêu gọi để trở thành MUỐI MEN và ÁNH SÁNG.

Họ có quyền và nghĩa vụ tham gia sinh hoạt chính trị công dân, để Muối có thể ướp Đời, và Ánh Sáng có thể chiếu soi BÓNG TỐI. Và do đó họ chỉ có thể đứng trên quan điểm ĐỐI THOẠI.

Từ đó phải loại bỏ những thái độ, những lời nói, những hành động làm thương tổn sự đối thoại.

Tôi xin trích dẫn bài viết của Ông Gioan Lê Công Vinh (có lẽ là một giáo sư Đại Học, theo cách ông nói về các sinh viên của ông) về vấn đề ĐỐI THOẠI :

Vậy đối thoại là gì? Từ điển tiếng Việt định nghĩa đối thoại là “nói chuyện qua lại trực tiếp giữa hai người hoặc nhiều người.” Nói chuyện với những mục đích rõ ràng khác nhau, nhưng đối thoại tựu trung là để hiểu nhau hơn.

Đối thoại cũng cần phải có những điều kiện cần thiết, mà điều kiện đầu tiên là phải cùng ngôn ngữ, ngay cả ngôn ngữ cử điệu cũng phải cùng hệ. Các bạn sinh viên ở trên và ông khách Tây đã không những không xích lại gần mà còn trở nên đối nghịch vì cố gắng đối thoại trên những căn bản vô cùng khác biệt, những khác biệt không thể “hoá giải” trên chuyến xe đò.

Điều kiện thứ hai để đối thoại thành công là cà hai bên phải có thiện chí. Làm gì có đối thoại giữa chiên và sói, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa những con người chỉ biết cầm nến hát kinh Hoà Bình và những con người cầm dùi cui đi với chó nghiệp vụ. Khi bên có thiện chí biết bên kia không có thiện chí mà vẫn kêu gọi đối thoại thì có nguy cơ đối thoại biến thành sự vâng phục bất chính.

Điều kiện thứ ba, điều quan trọng nhất, là “Phải coi luật luân lý phổ quát, được khắc ghi trong tâm hồn con người, là luật hữu hiệu và không thể xoá bỏ như một biểu hiện sống động của lương tri được chia sẻ của nhân loại, một “quy tắc thành văn” để chúng ta dựa vào đó mà xây dựng tương lai thế giới” (ĐGH Gioan Phaolô II, Diễn văn gửi Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc kỳ họp thứ 50). Sẽ là ảo tưởng khi muốn đối thoại với những con người chà đạp luật luân lý, luôn đặt nền tảng trên sự giả dối, kết án và bạo lực.

Đó không phải là sự ĐỐI THOẠI theo nghĩa của lịch sử Cứu Độ, của Tin Mừng mà người Giáo Dân phải thực hiện. Người Giáo Dân có nghĩa vụ phải làm cho cuộc ĐỐI THOẠI CỦA THIÊN CHÚA với loài người được thể hiện trong chính cuộc đời của mình. Theo đó những điều kiện của Ông Gioan Vinh chỉ là dành cho sự đối thoại của con người trần gian với con người trần gian. Còn Thiên Chúa bằng ngôn ngữ YÊU THƯƠNG vượt qua mọi giới hạn, kể cả giới hạn ngôn ngữ của con người, kể cả thiện chí của họ, kể cả lương tri của họ… Thiên Chúa luôn nói và chờ đợi sự đáp trả… thực tế ở mọi thời, mọi nơi đều có những tiếng đáp trả chân thành, để qua đối thoại ấy, Thiên Chúa nâng con người lên Sự Sống Vĩnh Cửu. Nếu sự đối thoại này có thể có cả 300000 ngàn đáp trả bằng máu của chính mình ở thời sơ khai giáo hội tại Roma, thì ngay tại VN cũng đã có hằng trăm ngàn đáp trả bằng máu của mình ở thời điểm Đạo vừa bén rễ trên đất nước này…

Người Giáo Dân phải làm chứng cho CÔNG LÝ VÀ SỰ THẬT, và họ thực hiện điều đó bằng việc làm chứng và loan báo Đức Giêsu Kitô “ĐƯỜNG,SỰ THẬT VÀ SỰ SỐNG” để những ai tin vào Ngài thì được sống đời đời. CÔNG LÝ VÀ SỰ THẬT ở đây không phải là những quyền lợi dù là chính đáng của con người. Những quyền lợi ấy đều được trao ban trong Đức Giêsu. Và vì thế để được Đức Giêsu thì như Phaolô nói “coi mọi sự khác như là phẩn thổ”.

 

Lm. Giuse Bảo Lộc

 



[1] GL 515 : Giáo xứ là một cộng đoàn ki tô hữu nhất định được thiết lập cách bền vững trong Giáo Hội địa phương; mà trách nhiệm mục vụ được ủy thác cho cha sở như là chủ chăn riêng của giáo xứ ấy, dưới quyền Giám Mục Giáo Phận.

Qua định nghĩa trên về Giáo Xứ chúng ta thấy xuất hiện những yếu tố

*       Một cộng đoàn kitô hữu nhất định :

Là cộng đoàn kitô hữu theo HCTLHT thì đó là cộng đoàn “ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại…” (HCTLHT số 1).

Như thế trước hết phải nhấn mạnh đến tính chất MẦU NHIỆM của Giáo Hội, cũng là của Giáo Xứ, trước khi đề cập đến những khía cạnh cơ cấu, tổ chức, phẩm trật… Mầu nhiệm này được HCTLHT khai triển qua những khái niệm :

+   Nước Thiên Chúa với những cách diễn tả theo KT : chuồng chiên (Ga 10,1-10) mà Chúa Kitô là cửa vào duy nhất, đàn chiên Ga 10,11…, là thửa ruộng (1Co 3,9; Rm 11,13-26), cây nho được tuyển chọn (Mt 21 33-43), là tòa nhà Thiên Chúa (1Co 3,9 Mt 21,42), Đền thánh…và phụng vụ ví như Thành Thánh Giêrusalem mới(Kh 21,1), là mẹ chúng ta, là hiền thê tinh tuyền của con chiên. Cho nên “Bao lâu còn lữ hành trên dương thế xa cách Chúa (2Co 5,6), Giáo hội nhận mình bị lưu đầy, nên luôn tìm kiếm hương vị trên trời, nơi Chúa Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa; nơi tiềm ẩn sự sống của Giáo Hội cùng Chúa Kitô trong Thiên Chúa, cho đến ngày xuất hiện với Phu Quân mình trong vinh quang (Col 3,1-4)”(HCTLHT 6.)

+    Thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô. “Thực vậy, Người tạo lập cách mầu nhiệm các em Người, tụ họp từ muôn nước thành thân thể Người, bằng cách thông truyền Thánh Thần cho họ”(HCTLHT 7)

        “toàn thể cơ cấu xã hội của Giáo Hội phục vụ Thánh Thần Chúa Kitô, Đấng làm cho Giáo Hội sống động để tăng triển thân thể” (Eph 4,16).(HCTLHT 8)

 

[2] +     Dân Thiên Chúa : “Chúa Kitô triệu tập dân chúng từ dân Israel và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần, chứ không theo xác thịt, để làm họ nên dân tộc mới của Thiên Chúa…”(HCTLHT 9) Đó là dân tư tế, tiên tri và vương giả. Có một khẳng định của Công Đồng cần phải lưu ý là “Được kể là gia nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Giáo Hội, những ai nhận lãnh Thánh Thần Chúa Kitô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu rỗi được thiết lập trong Giáo Hội; và nhờ các mối liên lạc do việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, việc cai trị của Giáo Hội và sự hiệp thông, họ liên kết với Chúa Kitô trong tổ chức hữu hình mà Người điều khiển nhờ Giáo Hoàng và các Giám Mục.” HCTLHT 14

+  Tông huấn Kitô hữu giáo dân số 20 có một định nghĩa về Giáo Xứ đáng ghi nhận : “Giáo xứ là chổ ở cuối cùng của Giáo Hội; có thể nói Giáo Xứ chính là Giáo hội sống giữa các thôn xóm của con cái nam nữ của mình…nhưng trước tiên Giáo xứ không phải là một cơ cấu, một địa  hạt, một ngôi nhà; nó là một gia đình của Chúa, một cộng đoàn huynh đệ chỉ có một linh hồn…là một cộng đồng Thánh Thể. 

 

[3] Nghĩa là một cộng đồng có tư cách cử hành Thánh Thể; bí tích này là nguồn gốc thành lập nên cộng đồng…” Nếu giáo xứ là Giáo Hội ở giữa thôn xóm, thì Giáo Hội sống và sinh hoạt trong lòng xã hội loài người và liên đới thâm sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó. Lắm lúc trong nhiều giáo xứ, trong nhiều môi trường sống, tình cảnh xã hội bị giao động bởi những vũ lực làm tan vỡ và làm cho con người mất hết phẩm giá : con người bị lạc lõng mất phương hướng. Nhưng tâm hồn họ vẫn còn một ước vọng được cảm nghiệm và tài bồi tình huynh đệ đầy tình người hơn. Ước vọng này, giáo xứ có thể làm thỏa mãn cho họ, nếu các tín hữu giáo dân hăng hái tham gia để họ đạo trung thành với ơn gọi và sứ mệnh nguyên thủy của mình : đó là trở thành “nơi” hiệp thông của những kẻ có lòng tin và đồng thời trở nên “dấu chỉ” và “dụng cụ” của ơn gọi mọi người sống hiệp thông; nói tắt một lời, giáo xứ là căn nhà mở rộng đón tiếp mọi người và phục vụ mọi người hay là như lời Đức Gioan XXIII thường nói, là vòi nước của thôn xóm để mọi người đến giải khát.”

+  Đức Phaolô đệ lục trong diễn văn dành cho các giáo sỹ Roma ngày 24.06.1963 nói về Giáo Xứ : “Ta tin tưởng là cơ cấu cổ kính Giáo Xứ này đang có một sứ mệnh khẩn thiết rất hợp thời; chính Giáo Xứ là cộng đồng tiên khởi của Dân Chúa, chính giáo xứ phải khai trương đời sống phụng vụ và tập hợp Dân Chúa trong việc cử hành phụng vụ; giáo xứ có bổn phận phải bảo tồn và nung nấu đức tin của đoàn lũ dân chúng hôm nay; chính giáo xứ phải dạy dỗ cho họ giáo lý cứu rỗi của Đức Kitô; chính giáo xứ còn phải hết lòng tận tụy thực thi các việc bác ái huynh đệ.”

 

[4] +   “Thánh công đồng muốn công bố và giải thích cho mọi người giáo lý về các Giám Mục, những đấng kế vị các Tông Đồ và cùng với Đấng kế vị thánh Phêrô, Đại Diện Chúa Kitô, và là Thủ Lãnh hữu hình của toàn thể Giáo Hội điều khiển gia đình Thiên Chúa hằng sống.” (HCTLHT 18).

+   Công Đồng nhắc lại truyền thống tường thuật việc Chúa Giêsu đã thiết lập cộng đoàn 12 tông đồ và chọn Phêrô làm đầu cộng đoàn ấy, sai họ đến với muôn dân, nhờ tham dự vào quyền bính của Người, các tông đồ đã làm cho mọi dân tộc nên môn đệ Người cùng thánh hóa và điều khiển họ (Mt 28, 16-20…)HCTLHT 19

+    Công đồng cũng khẳng định do sứ mệnh thần linh được Chúa Ki tô trao phó cho các tông đồ phải tồn tại cho đến tận thế (Mt 28,20) nên các Tông Đồ đã quan tâm đặt người kế vị trong xã hội có phẩm trật này. Đó là các Giám Mục, những vị có trách nhiệm hoàn tất và củng cố công trình các Tông Đồ đã khởi sự, đồng thời coi sóc đoàn chiên (CVCTĐ 20,28). HCTLHT 20.

+    Công đồng cũng nhấn mạnh “Thánh Phêrô và các Tông Đồ khác tạo thành một cộng đoàn Tông Đồ duy nhất theo như Chúa ấn định : tương tự như thế, Giáo Hoàng Roma, Đấng kế vị Phêrô, cùng với các Giám Mục là những người kế vị các Tông Đồ đều liên kết với nhau. Đặc tính và bản chất cộng đoàn của hàng giám mục được biểu lộ qua luật lệ cổ truyền : theo đó Giám mục trên khắp hoàn cầu thông hiệp với nhau và với Giám Mục Roma bằng mối dây hiệp nhất, bác ái, và bình an và qua sự triệu tập các công đồng để cùng giải quyết các vấn đề quan trọng đặc biệt…”HCTLHT 22.

[5] +     “Đức Giáo Hoàng Roma… là nguyên lý và nền tảng hữu hình, vĩnh cửu của sự hiệp nhất giữa các Giám Mục cũng như giữa các tín hữu. Còn mỗi Giám Mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong Giáo Hội địa phương.” HCTLHT 23.

+    Công đồng cũng không quên nhắc lại “Nhiệm vụ Chúa đã trao phó cho các chủ chăn của dân Người thực là một việc phục vụ, mà thánh kinh gọi rõ ràng là “diakonia” nghĩa là “thừa tác vụ” (CVCTD 1,17;25; 21,19…)HCTLHT 24.

+    “Thừa tác vụ do Thiên Chúa thiết lập trong Giáo Hội được thi hành bởi những người có chức vụ khác nhau mà từ xưa được gọi là Giám Mục, linh mục và phó tế… Là cộng sự viên khôn ngoan, là phụ tá và là dụng cụ của hàng Giám Mục, linh mục được kêu gọi để phục vụ Dân Thiên Chúa. Các ngài hợp với Giám Mục của mình tạo thành linh mục đoàn duy nhất với nhiều chức vụ khác nhau…Trong mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương, linh mục là hiện thân của Giám Mục…linh mục thánh hóa dẫn dắt phần đoàn chiên được Chúa giao phó cho mình làm cho người ta thấy được giáo hội phổ quát ngay tại địa phương mình, góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng toàn thân thể Chúa Kitô.” HCTLHT 28

[6] +    Tương quan giữa phẩm trật và người giáo dân công đồng cũng khẳng định “Các Ngài (các chủ chăn) biết rằng Chúa Kitô không đặt các ngài lên để một mình lãnh lấy tất cả sứ vụ cứu độ của Giáo Hội đối với thế giới; nhưng nhiệm vụ cao cả của các ngài là chăn dắt các tín hữu và nhận biết các phận vụ và đoàn sủng nơi họ, để mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung, tùy theo cách thức của mình. Vì chưng, tất cả phải “sống theo sự thật trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái.” (Eph 4, 15-16) HCTLHT 30.  “Phần các chủ chăn có chức thánh, các ngài phải nhìn nhận và nâng cao phẩm giá và trách nhiệm của người giáo dân trong Giáo Hội, các ngài nên sẵn sàng chấp nhận những ý kiến khôn ngoan của họ, tín cẩn giao cho họ những công tác để họ phục vụ Giáo Hội,cho họ tự do và quyền hạn để hành động…nhìn nhận và tôn trọng sự tự do chính đáng của mọi người trong lãnh vực trần thế.” HCTLHT 37

+   Giáo dân làm tông đồ đó là thông phần vào chính sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội, họ được Chúa đề cử làm tông đồ qua việc lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức; đàng khác các bí tích nhất là  bí tích Thánh Thể thông ban và nuôi dưỡng trong họ đức ái đối với Thiên Chúa và đối với loài người, nhân đức này là linh hồn của mọi hoạt động tông đồNhưng Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động nơi và trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ, thì Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian…Giáo dân có thể còn được mời gọi góp phần trực tiếp hơn và bằng nhiều cách vào công việc tông đồ của hàng giáo phẩm… vào một số phận vụ của Giáo Hội có mục đích thiêng liêng.” HCTLHT 33. “Bởi vậy nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại. Vì thế khắp nơi phải mở đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo Hội, tùy sức lực và tùy nhu cầu của thời đại” HCTLHT 34

“Điều tuyệt đối cần thiết là mỗi tín hữu giáo dân phải ý thức sâu xa mình là “phần thân thể của Giáo Hội” và nhiệm vụ đặc biệt được giao phó cho mình một nhiệm vụ không thể thay thế được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính mình phải chu toàn vì lợi ích của mọi người…Bởi vì người tín hữu giáo dân đồng chung cùng một điều kiện sinh sống, cùng chung một việc làm, cùng chia sẻ những khó khăn, những niềm hy vọng của anh em mình, họ có thể cảm kích tâm hồn người bên cạnh, các bạn hữu, các đồng nghiệp, và mở rộng cho họ thấy một chân trời toàn diện, ý nghĩa trọn hảo của cuộc sống : Đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người” THNKTHGD 28.

[7] +   “Mọi hoạt động kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần, và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (1Pet 2,5), được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Mình Thánh Chúa khi cử hành phép Thánh Thể. Như thế Giáo dân thánh hiến thế giới này cho Thiên Chúa nhờ biết phụng thờ Ngài bằng hành động thánh thiện khắp nơi.” HCTLHT 34

+   “(Chúa Kitô) Người đã đặt họ làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ nữa (CVCTĐ 2,17-18) là để sức mạnh Phúc Âm sáng ngời trong đời sống thường ngày, trong gia đình và ngoài xã hội… giáo dân mạnh mẽ loan báo lòng tin vào điều mình trông đợi…nếu họ không ngần ngại nối kết đời sống đức tin với việc tuyên xưng đức tin làm một…Gia đình là+   “Mọi hoạt động kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần, và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên của lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (1Pet 2,5), được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Mình Thánh Chúa khi cử hành phép Thánh Thể. Như thế Giáo dân thánh hiến thế giới này cho Thiên Chúa nhờ biết phụng thờ Ngài bằng hành động thánh thiện khắp nơi.” HCTLHT 34

+   “(Chúa Kitô) Người đã đặt họ làm chứng nhân, đồng thời ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ nữa (CVCTĐ 2,17-18) là để sức mạnh Phúc Âm sáng ngời trong đời sống thường ngày, trong gia đình và ngoài xã hội… giáo dân mạnh mẽ loan báo lòng tin vào điều mình trông đợi…nếu họ không ngần ngại nối kết đời sống đức tin với việc tuyên xưng đức tin làm một…Gia đình là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân… vì thế giáo dân có thể và phải có một hoạt động cao quý là truyền bá Phúc Âm cho thế giới, cả lúc họ bận tâm lo những việc trần thế.” HCTLHT 35

[8] +   Chúa cũng muốn nhờ giáo dân để mở rộng nước Người, nước của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hòa bình; trong nước này, chính tạo vật cũng được giải thoát khỏi thân phận làm nô lệ sự hư đốn…” HCTLHT 36 “…khi các thể chế và cảnh sống của thế giới gây nên dịp tội, giáo dân phải góp sức làm cho các thể chế và cảnh sống đó trở nên lành mạnh, để chúng phù hợp với các tiêu chuẩn của đức công bình,…Chính công cuộc cứu độ đòi hỏi tín hữu phải lưu tâm phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách một phần tử của Giáo Hội, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách là một phần tử trong xã hội loài người. Họ phải cố gắng hòa hợp cả hai loại quyền lợi và nghĩa vụ đó với nhau, và hãy nhớ rằng trong mọi lãnh vực trần thế, lương tâm kitô giáo phải luôn hướng dẫn họ, vì không một hoạt động nào của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa.” HCTLHT 36

+   Vì Chúa Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến là nguồn mạch ngyên ủy của mọi việc tông đồ trong Giáo Hội, nên hiển nhiên là kết quả phong phú của việc tông đồ giáo dân tùy thuộc ở sự kết hiệp sống động của chính họ với Chúa Kitô…” SLTDGD 4. (các phương thế thông thường : Lời Chúa, Phụng vụ thánh, sự hiệp thông trong HT) “Giáo xứ là một hình thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu, vì đó là nơi quy tụ đủ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đem họ vào tinh thần đại đồng của Giáo Hội… Giáo dân phải luôn luôn nuôi dưỡng ý thức về giáo phận vì giáo xứ như một tế bào của giáo phận…” SLTDGD 10 . “Hoạt động tông đồ tập thể rất quan trọng…vậy trong những hoàn cảnh hiện tại, nơi nào có giáo dân hoạt động tông đồ thì nhất thiết phải được củng cố dưới hình thức tập thể và có tổ chức…” SLTDGD 18

Tông đồ tập thể là “một dấu hiệu của sự hiệp thông và tính cách hợp nhất của Giáo Hội trong Chúa Kitô” SLTDGD 18

[9] +   Những điều kiện để trở thành một tổ chức tông đồ tập thể :

      @ Mục đích trực tiếp của những tổ chức này phải là mục đích tông đồ của Giáo Hội : nghĩa là rao truyền Phúc Âm và thánh hóa nhân loại, và đào tạo con người một lương tâm kitô giáo đích thực…

      @ Trong khi cộng tác với hàng giáo phẩm theo thể thức riêng của mình, người giáo dân đảm nhận trách nhiệm và đem kinh nghiệm riêng để điều hành các tổ chức này, tìm những điều kiện thích hợp cho hoạt động mục vụ của Giáo Hội, cũng như để soạn thảo và theo đuổi một chương trình hành động.

Tông Huấn Người Kitô hữu giáo dân nói về các tiêu chuẩn có tính giáo hội :

số 30

“Những tiêu chuẩn nền tảng để phân biệt tất cả các hiệp hội của người tín hữu giáo dân trong giáo hội là những tiêu chuẩn sau đây :

          @ Ơn gọi nên thánh của mọi Kitô hữu nhắm tới “sự hiệp nhất thâm sâu giữa cuộc sống thường nhật với đức tin của các hội viên”.

          @ Sự dấn thân tuyên xưng đức tin Kitô giáo…Tất cả các hiệp hội…phải trở nên “một nơi rao truyền và thông đạt đức tin và giáo dục sống đức tin này trọn vẹn.”

          @ Phải chứng minh một đời sống hiệp thông kiên cường vững chắc trong tình nghĩa phụ tử đối với Đức Thánh Cha… đối với các Giám Mục… và với mọi hình thức tông đồ của Giáo Hội…

          @ Thỏa thuận và cộng tác để thực hiện sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội…phải có một tinh thần hăng hái nồng nhiệt truyền giáo…

          @ Phải dấn thân để có thể hiện diện trong xã hội loài người để phục vụ nhân phẩm toàn diện con người, đúng theo học thuyết xã hội của Giáo Hội.”

Trong hiện tình, các tín hữu giáo dân có thể và phải nỗ lực làm sao cho việc hiệp thông giáo hội được nẩy nở trong lòng giáo xứ của mình và để giáo xứ có một nghị lực truyền giáo cho người chưa có đức tin và cho những ai đã tin mà lại bê tha trong đời sống đạo của mình. THNKHGD 27