TRÒ CHUYỆN VỚI NHẠC SĨ
PHAN XI CÔ
Những ngày đầu tháng 8, Gia đình AMI, tên
thân mật Lớp Đức Mẹ Vô Nhiễm, tiểu chủng
viện Long Xuyên khoá 1965, từ bốn phương trời về họp mặt tại Đà Lạt nhân dịp kỷ
niệm 50 năm vào chủng viện. Nhạc sĩ
Phanxicô tham dự với tư cách khách mời và Đoàn đã tổ chức Đêm thánh ca Phanxicô
Một đời tạ ơn, giao lưu với các ca
đoàn Nhà thờ Chính toà Đà Lạt đêm 4/8 vừa
qua tại hội trường Nhà Mục Vụ giáo xứ. Xin lược ghi các câu hỏi trong buổi giao
lưu cũng như giờ phút gặp gỡ bên lề.
Thưa anh, câu hỏi có lẽ đã rất quen
thuộc với anh nhưng với người Đà Lạt vẫn mới mẻ: vì sao anh chọn bút danh
Phanxicô?
Trước hết,
xin chân thành cảm ơn cha Phaolô, Tổng đại diện giáo phận kiêm cha sở Nhà thờ
chính tòa Đà Lạt và cảm ơn các Ca đoàn Nhà thờ chính tòa đã dành cho Gia đình
AMI và cá nhân tôi sự đón tiếp ân cần và những giờ phút giao lưu tuyệt vời nơi
vùng đất thơ mộng này. Vâng, tôi chọn
bút danh Phanxicô, còn tên thánh khi được rửa tội là Phêrô. Nhớ lại lúc ban đầu
mới sáng tác, tôi có được một số bài hát và muốn góp mặt với một số bạn viết nhạc
khác trong một tuyển tập Thánh ca, vì thế tôi nghĩ đến việc chọn một bút danh. Bút
danh Phanxicô đến với tôi vì khi đó tôi đang say mê đọc Saint Francis, tác phẩm văn học nói về cuộc đời thánh Phanxicô Assisi của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzakis
(chuyển ngữ : Xin Chọn Người Yêu Là Thượng Đế, dịch giả Nguyễn Yến Anh, 1974 ).
Tôi yêu mến thánh Phanxicô Assisi vì ngài vừa là một vị thánh vừa là một nhà
nghệ sĩ. Chọn bút danh Phanxicô, tôi muốn noi gương và xin ngài phù trợ.
Anh học nhạc và sáng tác từ bao giờ ?
Tôi tu học 6 năm trung học trong Dòng Salêdiêng Don Bosco và được
hưởng nhờ sự giáo dục của nhà dòng, trong đó có âm nhạc. Nói đến nhà dòng, lúc
này trong ký ức tôi lại vang lên tiếng nhạc sôi động những ban trưa hơn 40 năm
về trước khi mà mỗi người ôm một món nhạc khí và tập luyện các bài khác nhau
cùng một lúc. Khó mà quên được tiếng nhạc “tổng hợp” ầm ĩ đặc biệt ấy. Người dậy
vỡ lòng nhạc lý cho tôi trong nhà dòng năm 1969 là thầy Phê rô Nguyễn văn Đệ,
hiện là Giám mục chính toà Thái Bình. Sau này, tôi được thụ giáo cha Kim Long
và thầy Viết Chung về hòa âm và sáng tác. Tôi bắt đầu viết từ năm 1975, sung sức
nhất là trong thập niên 1980.
Tính đến nay anh đã viết trên 300 ca khúc,
có bài nào anh đặc biệt ưng ý hơn tất cả và ngược lại?
Tất cả như nhau, giống như người mẹ yêu mến mọi đứa con mình
sinh ra. Tất nhiên bài này hoặc bài kia có thể gắn liền với kỷ niệm riêng nhưng
không vì thế mà đặc biệt hơn. Kể cũng lạ, có những bài được viết ra khi mình
còn rất trẻ với vốn liếng âm nhạc rất ít thì lại có sức bay bổng; trái lại có
những bài được viết bằng nhiều kinh nghiệm và nhiều kỹ thuật nhưng không vút
lên được. Tôi có cảm nhận riêng là dường như thánh ca Việt
Với người yêu nhạc 10 bài Cầu Cho Cha Mẹ của
anh đã vượt qua khuôn khổ Thánh nhạc, được thể hiện bởi các ca sỹ hàng đầu
trong nhiều CD chọn lọc, nhanh chóng chiếm lĩnh trái tim công chúng, kể cả
ngoài Công giáo. Xin anh nói thêm về chùm ca khúc đặc biệt đó .
Tôi viết bài Cầu Cho Cha
Mẹ đầu tiên năm 1980 cho thiếu nhi trong giáo xứ hát dịp xuân về. Theo đà, mỗi
năm cứ đến những ngày cận Tết lại viết thêm một bài mới và đánh số, cho đến 1989
là bài số 10. Những năm ấy tôi phụ trách ca đoàn thiếu nhi. Khi tập hát bài mới,
tâm hồn tự nhiên của các em giúp tôi dễ dàng nhận ra những chi tiết chưa phù hợp
nơi tác phẩm. Ví dụ, bài Cầu Cho Cha Mẹ 3 có câu ban đầu là “Nước mắt mồ hôi,
những tháng ngày trôi”. Vì các em hát câu này rất khó khăn, tôi đã sửa lại
thành “những ngày tháng trôi” và thấy rằng giai điệu mới hợp lẽ hơn. Gần đây, một
bạn dạy piano cho thiếu nhi cho biết anh thường dạy các em đàn và hát bài Cầu
Cho Cha Mẹ 7 vì bài này chỉ có hai từ “ơn trên” để chỉ Thiên Chúa, nên xem ra dễ
được người ngoài Công giáo đón nhận. Thật là một khám phá rất thú vị. Tôi tin rằng
đó là một ơn Chúa ban để bài hát nhỏ có được lối đi nhỏ vào đời thường. Trong
ba năm vừa qua, linh mục Trăng Thập Tự cùng các thân hữu ở giáo phận Qui Nhơn,
trong nỗ lực truyền giáo, đã dùng các bài hát về cha mẹ này để giới thiệu chữ
hiếu của tín hữu Công giáo cho các anh chị em lương dân vẫn còn tin rằng người
nhà đạo không thờ cha kính mẹ và không nhớ đến tổ tiên.
Thánh ca Phanxicô là chọn lựa quen thuộc của
nhiều ca đoàn do dễ nghe dễ hát. Có nhiều bài anh viết theo nhạc thức phương Tây
nhưng cũng không ít bài đầy âm hưởng nhạc dân tộc, anh có nghiêng hẳn về khuynh
hướng nào ?
Tôi yêu thích cả hai. Có
điều viết một ca khúc có nhạc tính dân tộc thường mất gấp đôi thời gian vì phải
theo hệ thống ngũ cung và phải chọn lựa ca từ sao cho đậm nét thi ca cổ truyền
Việt
Nhắc đến tính dân tộc, hiện nay tại Tây
nguyên đồng bào thiểu số theo đạo Công giáo khá đông như tại giáo phận Đà Lạt
có gần 120.000 giáo dân người bản địa . Việc chuyển ngữ Thánh ca qua các ngôn
ngữ dân tộc thiểu số mới chỉ đảm bảo nội dung, còn về nhạc thức chắc chắn chưa
mang lại hơi hướng văn hoá quen thuộc của đồng bào. Anh có quan tâm đến vấn đề
đó ?
Một nhu cầu xác đáng, việc thông truyền và nuôi dưỡng đức tin
không thể tách rời các yếu tố văn hoá bản địa. Cách đây ít năm tôi có đến thăm
giáo xứ Lang Biang của Đà Lạt và được vào hát với ca đoàn dân tộc K’ho. Cha
Khánh phụ trách ca đoàn cho biết những nỗ lực duy trì tiếng K’ho và nhu cầu cần
có những bài thánh ca thích hợp với ngôn ngữ này và văn hóa của dân tộc này. Một
anh bạn của tôi, tên là Phú, cũng trăn trở với thánh ca bằng tiếng Ê-đê cho
giáo dân ở Buôn Ma Thuột. Với ngữ nhạc Tây nguyên, tôi hầu như chưa làm được gì
ngoài một sáng tác duy nhất vào khoảng năm 1983, nhan đề “Dâng Tâm Hồn Đêm
Đông”, chủ đề Giáng Sinh, mang ít nhiều âm hưởng Tây nguyên. Âm nhạc Tây nguyên
là một miền đất lý thú, tôi chưa tìm hiểu được nên vẫn thấy rất bí ẩn. Hy vọng ít
lâu nữa, tôi sẽ có thời gian dành cho phương diện này.
Nói đến công việc thường
nhật của anh không thể không nhắc đến công trình Từ điển Công giáo Anh- Việt gồm
8.000 từ mục chính và 20.000 tiểu mục, xuất bản tháng 11/2014 vừa qua được giới
học thuật đánh giá cao. Anh có thể cho biết động lực nào khiến anh lao vào thứ
công việc rất nặng nhọc là biên soạn từ điển ?
Thời sinh viên
chuyên ngành tiếng Anh, tôi quan tâm đến các thuật ngữ Công giáo để tự bổ sung
kiến thức cần thiết. Rồi khi đất nước đổi mới, nhu cầu Giáo Hội cũng như xã hội
rất cần sự chính xác trong việc chuyển ngữ nên tôi quyết định thực hiện Từ điển
Công giáo Anh-Việt để vừa học hỏi vừa hy vọng góp phần hỗ trợ việc tiếp cận các
văn bản Công giáo bằng tiếng Anh tại Việt Nam. Việc biên soạn kéo dài trong nhiều
năm. Sách ra mắt lần đầu năm 2002, sau này được tiếp tục chỉnh lý, bổ sung nên ấn
bản lần này, năm 2014, được mở rộng hơn nhiều. Nhờ ơn Chúa nâng đỡ, tôi tạm hoàn
thành cuốn sách này và đang chờ mong các ý kiến giúp tôi sửa chữa những gì còn
thiếu sót. Một linh mục khả kính và uyên bác, cũng là người của Đà Lạt, hiện
đang ban cho tôi nhiều điều chỉ giáo quý báu để tôi tiếp tục hoàn thiện công việc.
Việc làm sách cuốn hút nên thời gian qua tôi rất ít sáng tác. Tôi mong sẽ tìm lại
được nhịp điệu với thánh nhạc như ngày nào.
Không ít bạn trẻ đó đây đang chập chững sáng tác như anh thuở
trước, anh có thể cho đôi lời nhắn nhủ?
Chỉ dám xin
chia sẻ mà thôi. Thánh ca là lời cầu nguyện bằng âm nhạc trong cộng đoàn tín hữu,
vì thế người viết thánh ca cần thấm nhuần những gì liên quan đến việc cầu nguyện,
như Kinh Thánh, phụng vụ, giáo lý, ngõ hầu chính mình cầu nguyện thiết tha với
tác phẩm và hy vọng giúp được người khác cầu nguyện sốt sắng. Thánh ca là âm nhạc,
tức là khoa học, nên rất cần có sự học hỏi, cần có thầy hướng dẫn, không nên chỉ
dựa vào cảm hứng tự nhiên; trái lại, chính việc học hỏi làm cho cảm hứng đi
đúng hướng và, kỳ lạ thay, làm cảm hứng tăng lên rất nhiều. Thánh ca có yếu tố
tối quan trọng là ca từ, vì thế cần trau giồi khả năng cảm thụ văn chương song
song với khả năng diễn đạt bằng văn chương, nghĩa là vừa trau luyện ca từ trong
tác phẩm của mình vừa đọc thật nhiều; nếu có thể được thì nên tìm hiểu thêm triết
học và thần học Công giáo. Tôi e rằng mình đang đặt ra nhiều yêu cầu khó khăn
quá, nhưng tôi xin chia sẻ, vì đó là những lời khuyên mà tôi được lãnh hội từ
các tôn sư của mình.
Cám ơn anh đã dành thời
gian trao đổi. Nhà thờ Chính Toà và Đà Lạt luôn rộng mở đón chào mọi giới. Rất mong
sẽ được gặp lại nhạc sĩ trong một ngày gần đây.
Cảm ơn các bạn và cảm ơn Đà Lạt thật nhiều.
Nhạc sĩ Phanxicô tên thật là Phêrô Nguyễn
Đình Diễn, sinh năm 1957 tại TPHCM. Từ 1969-1975 tu học tại Don Bosco Thủ Đức,
1976 ĐH Sư Phạm TPHCM, tốt nghiệp 1980, giảng dạy tiếng Anh từ đó đến nay. Hiện
anh là thành viên Uỷ ban Thánh nhạc thuộc HĐ Giám Mục Việt
GB NĐS thực hiện